Trong mấy năm qua, Đảng, Chính phủ đã có nhiều chính sách đặc thù đối với vùng Tây Nguyên nhằm tạo điều kiện cho các địa phương từng bước vươn lên (XĐGN) bền vững, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ. Chúng tôi đã có cuộc đàm luận với đồng chí Trần Việt Hùng(ảnh),Phó trưởng ban túc trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên về các giải pháp hăng hái trong công tác XĐGN bền vững của vùng Tây Nguyên.
Xin đồng chí cho biết các giải pháp hăng hái trong công tác xóa đói giảm nghèo của vùng Tây Nguyên trong thời gian qua? Thực hành công tác này, điều đầu tiên được quan hoài ưu tiên là làm thế nào để có vốn tương trợ cho người nghèo đầu tư vào sinh sản. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương vùng Tây Nguyên đã tích cực, chủ động huy động nhiều nguồn vốn, trong đó cốt là vốn từ Chương trình đích nhà nước XĐGN, Quỹ nhà nước giải quyết việc làm của Chính phủ và các chương trình dự án vay vốn tương trợ ODA dành cho các công tác hỗ trợ XĐGN. Các nguồn vốn này đã được đưa đến người dân chuẩn y các kênh như nhà băng chính sách tầng lớp, các Ngân hàng thương mại, các chương trình dự án, các hoạt động tín dụng vi mô do hội phụ nữ và dân cày quản lý. Bằng cách này đã tạo mọi điều kiện tiện lợi để người nghèo được tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi. Tuy nhiên thực tại người dân vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn vì nhiều lý do. Các chương trình tương trợ vốn, tín dụng cần cần thiết cải thiện tính hiệu quả trong hoạt động và khả năng tiếp cận của người nghèo.

Cà phê là cây chủ lực của vùng Tây Nguyên. Ảnh: V.Tôn |
Các hoạt động tầng lớp, tương trợ trong cộng đồng, từ các đơn vị hảo tâm, doanh nghiệp, quần chúng hỗ trợ về cây, con giống, vật tư, máy móc dụng cụ, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho những nơi khó khăn để phát triển sinh sản, ổn định đời sống đã có những đóng góp tích cực. Tính trung bình, mỗi năm, các tỉnh Tây Nguyên huy động từ cả thảy các nguồn khoảng trên 1.200 tỷ đồng phục vụ trực tiếp cho công tác XĐGN.
Từ nay đến năm 2015, các tỉnh vùng Tây Nguyên cần tụ hợp giải quyết căn bản vấn đề đất đai, ưu tiên giải quyết đủ đất sản xuất cho các hộ đồng bào DTTS thiếu đất, đảm bảo cho đồng bào làm chủ được mảnh đất của mình. |
Hỗ trợ trong các hoạt động sinh sản trực tiếp là một trọng điểm trong công tác XĐGN. Các địa phương cũng quan hoài xây dựng các mô hình trồng tỉa, chăn nuôi hợp với đất đai, hạ tầng, tập quán của người dân ở từng địa bàn nông thôn, đưa giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao vào các thôn, buôn, bon làng để thay thế dần các cây con truyền thống năng suất thấp. Xây dựng nhiều mô hình kết liên làm ăn giữa người dân với doanh nghiệp trên cơ sở đất đai, cần lao của dân và sự đầu tư về vốn, kỹ thuật, xây dựng các mô hình canh tác, đào tạo kỹ năng sản xuất, bao tiêu sản phẩm của doanh nghiệp. Các cấp chính quyền cùng cơ quan nông nghiệp trực tính phối hợp xây dựng các năng lực hỗ trợ sinh sản cho người nghèo để họ có thể được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, màng lưới thu mua. Hiện giờ, ở Tây Nguyên đã cơ bản hình thành được mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm đến tận xã. Hàng ngũ khuyến nông, khuyến lâm do ngành nông nghiệp quản lý, được quốc gia trả lương để làm nhiệm vụ chỉ dẫn người dân trồng trọt, chăn nuôi theo đúng kỹ thuật, thời vụ. Chính từ sự chỉ dẫn này đã làm cho người dân đổi thay tập quán, càng ngày càng có kiến thức và kỹ năng về sinh sản hàng hóa.
Ông Giàng A Chu, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội: Việc tái định cư cho người dân chưa đạt đề nghị Khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình nhà nước, người dân luôn vui lòng ủng hộ chủ trương của cấp trên. Với mục tiêu làm sao phải giải quyết được đất ở, đất sinh sản, tái định cư cho người dân khi đến nơi ở mới phải tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ thì chưa đạt yêu cầu. Có chỗ đáp ứng được đất sản xuất nhưng lại không đáp ứng được đất ở; có nơi đáp ứng được đất ở nhưng không đáp ứng được đất sản xuất, vì ở những nơi đó đất bạc màu. Ông Tống thái hoà, Trưởng ban Dân tộc tỉnh Lai Châu: Việc kéo dài QĐ 134 là rất cần thiết Lai Châu có địa hình đồi núi hiểm trở, đất đai rộng, song chính yếu là đất sông suối và núi đá, đất sản xuất hạn hẹp. Địa bàn rộng, dân cư sinh sống phân tán, liên lạc đi lại khó khăn, việc đầu tư gặp nhiều khó khăn, định suất đầu tư lớn. Hơn nữa, Lai Châu lại là một trong những tỉnh nghèo, thu ngân sách trên địa bàn thấp, phụ thuộc vào nguồn ngân sách Trung ương. Do vậy, việc ban hành chính sách hỗ trợ đất ở đất sinh sản, nước sinh hoạt giai đoạn 2013 - 2015 theo Quyết định số 755/QĐ-TTg (Chương trình 134 kéo dài) là rất cấp thiết, tạo điều kiện giúp bà con các dân tộc Lai Châu phát triển kinh tế - tầng lớp, nâng cao đời sống, ổn định cuộc sống. Qua đó, đã tiếp chuyện khẳng định đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và đại kết đoàn dân tộc. Ông Đinh Ngọc Hải (Ban dân tộc tỉnh Hà Giang): Đất sản xuất vẫn chưa được đáp ứng Toàn tỉnh Hà Giang có gần 20.000 hộ nghèo theo tiêu chuẩn của chương trình 134. Người dân vùng cao sinh sống tản mát nên đất ở căn bản không thiếu, nhưng đất sinh sản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiếu của quần chúng do địa hình chia cắt phức tạp, nhiều đá, ít đất, thiếu nước…Với tỷ lệ lao động nông thôn chiếm hơn 90% dân số, tỉnh Hà Giang hiện đang thiếu khoảng 2.000 ha đất nông nghiệp. Nguồn vốn Trung ương cấp hàng năm cho tỉnh để khai triển thực hiện các dự án còn chậm và thiếu nhiều so với kế hoạch. Bên cạnh đó cán bộ làm mướn tác dân tộc thẳng thay đổi, còn hạn chế về chuyên môn và chưa nhiều kinh nghiệm nên kết quả còn hạn chế. Hình thức hỗ trợ kinh phí cho các hộ nghèo cũng nên xem xét lại. Bây giờ, hộ đông nhân khẩu và hộ ít nhân khẩu đều được nhận kinh phí hỗ trợ ngang. Chính phủ nên tương trợ kinh phí theo diện tích sinh sản (ha), như vậy sẽ công bằng hơn. Trong thời kì tới, để chương trình đem lại hiểu quả cao, yêu cầu Trung ương cần bổ trí nguồn vốn kịp thời và tập kết hơn để tỉnh Hà Giang thực hiện đề án theo đúng tiến độ và kế hoạch đã được thông qua. V.Tôn - Minh Chí - Đỗ Bình |
phê chuẩn đầu tư của Nhà nước, các địa phương vùng Tây Nguyên cũng đã giao hội giải quyết có kết quả vấn đề thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, hạ tầng nông thôn cho người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Bằng nguồn vốn Nhà nước là đẵn, đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã giải quyết giao mới được trên 35.000 ha đất sản xuất, tương trợ làm mới, sửa sang được gần 100.000 căn nhà. Về căn bản đã giải quyết được nhu cầu cấp bách về đất sinh sản ở nhiều địa phương và đã xóa trên 92% số nhà tạm, nhà dột nát trong vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên. Bình quân mỗi năm, các tỉnh Tây Nguyên đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn. Nhờ vậy, bây chừ, hệ thống đường liên lạc nông thôn đã am hiểu đến tận vùng sâu, vùng xa, biên giới, trên 90% số thôn, bon, buôn làng có điện lưới quốc gia, có vườn trẻ, lớp mẫu giáo, nhà sinh hoạt cộng đồng, khoảng 65% số hộ nông thôn được dùng nước sạch... Vấn đề giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS được ưu tiên. Hàng chục vạn cần lao là đồng bào DTTS đã được các nông, lâm trường cũng thu hút vào làm thuê nhân, nhận khoán, quản lý bảo vệ hàng trăm ngàn ha rừng. Các tỉnh vùng Tây Nguyên cũng đã có nhiều chủ trương, giải pháp tổ chức lồng ghép các dự án, chương trình đích quốc gia để đầu tư phát triển sinh sản, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống đồng bào.
Đến cuối năm 2012, các tỉnh Tây Nguyên đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 15% (giảm 3,18% so với năm trước), trong đó, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS còn khoảng 33%, giảm 4,76% so cùng kỳ.
Xin đồng chí cho biết những giải pháp giảm nghèo vững bền trong thời gian tới. Tỷ lệ hộ nghèo ở Tây Nguyên tuy giảm nhanh, nhưng vẫn còn ở mức cao, nhất là trong đồng bào DTTS. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, xã hội dân cư ngày càng tăng, công tác giải quyết việc làm cho người lao động, XĐGN tuy đã được chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao. Việc giải quyết đất ở, đất sinh sản cho đồng bào DTTS còn chậm. Để vấn đề XĐGN trong thời gian tới đạt được kết quả cao và bền vững cần phải tiếp duy trì các trọng điểm tương trợ đã thực hiện trước đây nhưng điều quan trọng cần thiết là nâng cao hiệu quả thực hiện. Chính sách giảm nghèo cho đồng bào DTTS cần tách biệt các nhóm nghèo riêng biệt. Người nghèo các DTTS tại chỗ là đối tượng cần được quan hoài ở Tây Nguyên.
Tiếp kiến hỗ trợ cải thiện nguồn vốn ưu đãi cho người nghèo. Đặc biệt chú trọng tính hiệu quả của các chương trình hoạt động tín dụng cho người nghèo và khả năng tiếp cận vốn của họ. Nâng cao vai trò của cộng đồng, hội nữ giới, dân cày trong hoạt động tín dụng để người nghèo dễ dàng tiếp cận vốn và dùng vốn hiệu quả.
Yêu cầu Thủ tướng Chính phủ nối chỉ đạo các bộ, ngành liên can, các địa phương vùng Tây Nguyên tăng cường hơn nữa quản lý quốc gia về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, môi trường, bao gồm cả quy hoạch, quản lý, dùng, thực hành tốt chính sách đất đai, bảo đảm dùng đất hợp với phương hướng phát triển kinh tế, tầng lớp và nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đồng thời đảm bảo không gian sinh sống của đồng bào DTTS tại chỗ.
Tăng cường công tác đào tạo tay nghề, giải quyết việc làm, ưu tiên nguồn vốn đào tạo nghề cho cần lao nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS. Củng cố hoạt động khuyến nông khuyến lâm ở cơ sở để người nghèo tiếp cận được các tiến bộ trong sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi. Nâng cao năng lực và ngân sách hoạt động tương trợ của Đội ngũ khuyến nông, khuyến lâm. Huy động các nguồn lực khác từ doanh nghiệp, các chương trình hỗ trợ để cải thiện công tác đào tạo tập huấn cho người dân nói chung và người nghèo DTTS nói riêng. Đấu nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho các vùng sinh thái đặc thù, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp.
Nâng cao chất lượng công tác định canh, định cư cho đồng bào DTTS tại chỗ, giải quyết tốt vấn đề dân thiên di đến ngoài kế hoạch ở cả nơi đi và nơi đến để đến năm 2015 ổn định các thôn, bon, buôn làng, cụm dân cư, đưa các vùng dân thiên di đến ngoài kế hoạch hòa nhập với sự phát triển của Tây Nguyên.
Xây dựng cơ chế, chính sách lâm nghiệp đặc thù vùng, hình thành hệ thống quản lý rừng theo hình thức lâm nghiệp cộng đồng trên cơ sở giao rừng cho hộ gia đình, nhóm hộ, buôn làng, ưu tiên cho đồng bào DTTS nghèo. Huy động tối đa các nguồn lực của cộng đồng từng lớp đầu tư cho vùng đồng bào DTTS, lồng ghép tốt các chương trình đích quốc gia, phát huy ý thức tự lực của người dân để vươn lên giảm nghèo.
Tăng cường vai trò doanh nghiệp nhằm mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp. Nối đẩy mạnh việc kết liên sinh sản, khuyến khích các doanh nghiệp thật sự làm “bà đỡ”, liên kết với người dân.
Các tỉnh Tây Nguyên cần quan hoài đầu tư phát triển các ngành dịch vụ nông nghiệp ở các thôn, bon, buôn làng, khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thống, gắn với việc hình thành các tour du lịch làng nghề ở những nơi có điều kiện. Phối hợp hỗ trợ với tuyên truyên truyền giúp đồng bào giảm việc làm nông nghiệp, dự tích cực vào các hoạt động sinh sản, kinh doanh phi nông nghiệp để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống.
Đầu tư hơn nữa và hiệu quả hơn cho công tác phát triển hạ tầng nông thôn, bảo đảm vơ các xã, thôn, bon, buôn làng có đường liên lạc kiên cố đi lại trong cả hai mùa, có điện, hệ thống cấp nước, dài, trạm xá, bưu điện văn hóa xã và các cơ sở dịch vụ cần yếu khác.
Tăng cường hỗ trợ bảo tồn và xây dựng cộng đồng văn hóa truyền thống duy trì các hoạt động văn hóa truyền thống, tăng cường tính liên kết cộng đồng trong đồng bào DTTS. Từ đó hỗ trợ cho hoạt động cộng đồng trong sản xuất, kinh dinh, nâng cao đời sống và cải thiện đời sống tinh thần.
Đích hoạt động xóa đói giảm nghèo là đến năm 2015, các tỉnh Tây Nguyên giảm số hộ nghèo xuống còn khoảng 3%, đối với đồng bào dân tộc thiểu số giảm xuống còn 7 đến 8%.
Xin cảm ơn đồng chí. Quang Huy(thực hành)
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét