Nhữngphấn khởi, kỳ vọng ban đầu về những cơ hội mà chúngta sẽ nhận được khi gia nhập WTO, nền kinh tế nhanh chóng phát triển, đất nước sẽ sớm hóa “rồng” đã dần bị thay thế bởi những hoài nghi, lo lắng. Cái chúng ta nhận được không như cái chúng ta kỳ vọng,kết quả phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đã không được nhưmong muốn. Đã đến lúc phải nhìn nhận lại một cách nghiêm túc quá trình mở cửa hội nhập.Để quá trình hội nhập có hiệu quả, Việt Nam cần làm gì?Những thách thứcmà Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình phát triển? Conđường phát triển? Phát triển một cách “tuần tự” hay“Đi tắt đón đầu”,“đốt cháy giai đoạn”?Đây là một câu hỏi mà hầu như các quốc gia đang phát triển nào cũng đều đặt ra? Có thể nóicác nước đang phát triển đã đạt tới mức thu nhập trung bìnhcótâm lý khát khao vươn tới thịnh vượngrấtmãnh liệt. Tâm lý này không chỉ xuất phát từ nhu cầu tự thân, nhu cầu bên trong củađất nướcmà tâm lý ấy còn được cháy bỏng thêm do dư luận của cộng đồng thế giới.Rất nhiều từ có cánh được dùng để chỉsự trỗi dậy của Đông Á, của các con rồng châu Á,khisự trỗi dạy này đã làm ảnh môi trường địa chính trị thế giớinhư:“Điều thần kỳ châu Á”, “kỷ nguyên châu Á” đã bắt đầu…Những nước NICs/NIEs được gọi là “rồng”, những nước mới nổi lênnhư Indonesia, Malaysia, Philipines, Thailand và đôi khi cả Trung Quốcđược gọilà “hổ”…Vì vậy,phương thức “đi tắt đón đầu”, hệ quả của điều đó, đã trở thành tâm lý phổ biến chi phối nhiều hoạt động của đất nước trong đó có Việt Nam. Nhìn nhậ một cách khách quan, cũng đã có những thành công đáng kể trong hoạt động kinh tế, tiếp thu khoa học, chuyển giao công nghệ… khi biết đi tắt đón đầu hợp lý. Nhưng tâm lý“nóng vội”, “đốt cháy giai đoạn” cũng đã hình thành, đặc biệt trong kinh doanh, đầu tư, làm ăn kinh tế... Tâm lý ấy in dấu ấn không chỉ ở các nhà doanh nghiệp (lớn và nhỏ), hay những người lao động (cao cấp và bình thường), mà thậm chí còn cả ở một số nhà quản lý ở tầm vĩ mô. Nhiều người đã tưởng rằng, với tốc độ tăng trưởng 8-9% năm, chẳng mấy chốc đất nước sẽ hóa rồng, tưởng rằng với nền kinh tế chuyển đổi năng động, chẳng mấy chốc nhiều người sẽ giàu có. Thực tế, người ta đã không phân biệt (được) hai khái niệm “Tính sinh lợi“ và “lợi nhuận” Chỉ số sinh lợi (PI)là chênh lệch giữa thu nhập trong tương lai với vốn đầu tư hiện tại. Lợi nhuậnlà phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờđầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cảchi phí cơ hội,là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Chính vì tâm lý nóng vội, muốn nhanh chóng phát triển, mà vì vậy lợi nhuận được coi là cái duy nhất đóng vai trò động lực cho nhiều hoạt động ở Việt Nam, thậm chí kể cả trong giáo dục. Trên thực tế, tính sinh lợi, cái có thể tạo ra lợi nhuận bền vững, không được quan tâm. Lợi nhuận và lợi nhuận tức thì, lợi nhuận với khối lượng lớn, lợi nhuận cả trong các hoạt động ngoài kinh tế... Lại là cái được chú trọng, chú trọng quá mức và điều này đã trở thành cạm bẫy ngăn cản lịch sử tiến bộ. Cũng từ đây, dư luận xã hội đã bắt đầu nói nhiều hơn đến khái niệm “các nhóm lợi ích”. "Nhóm lợi ích”là một tập đoàn có tổ chức của những người có cùng chung một số mục đích và họ muốn gây ảnh hưởng vào chính sách công.Lợi nhuận cục bộ của các nhóm lợi ích đôi khi đã làm thay đổi các mục tiêu tốt đẹp, làm méo mó các hoạt động kinh tế - xã hội. Vàcơn khát phát triển đã góp phần làm nảy sinh và duy trì những hiện tượng tiêu cực, những điều bất bình thường trong các hoạt động kinh tế - xã hội ở thời toàn cầu hóa.Chẳng hạn như tham nhũng, ở đâu cũng có.Nhưngđang tồn tại một điều tệ hại làtham nhũng lại đi đôi với “làm ngơ trước tham nhũng”. Phải chăngdotính thực dụng đã cản trở ngườitađi đến tận cùng quan điểm của mình? Mô hình tăng trưởng? Lựa chọn mô hình tăng trưởng nào? Đây cũng là câu hỏi được đặt ra nhiều? Tăng trưởnglà chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng hàng đầu, có liên quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, lạm phát, nghèo đói,… Thực tế cho thấy nhiều “loại” tăng trưởng không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái lại còn để lại những hậu quả không tốt mà các thế hệ tương lai phải gánh chịu. Năm 1996, UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo, đó là:Tăng trưởng không việc làm;Tăng trưởng không lương tâm(Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện);Tăng trưởng không tiếng nói(Tăng trưởng không gắn với sự cải thiện về dân chủ);Tăng trưởng không gốc rễ(Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái) và tăng trưởng không tương lai(Tăng trưởng nhưng hủy hoại môi trường sống của con người). Năm 1987, vấn đề phát triển bền vững được WB đề cập lần đầu tiên,đó là “Sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại màkhông làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”. Khái niệm trên được đề cập đầy đủ hơn tại hội nghị Thượng định Thế giới về phát triển bền vững tổ chức tại Nam Phi năm 2002: phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Và nói chung, ai cũng nhận thức được cần phải lựa chọn mô hình tăng trưởng đảm bảo sự phát triển bền vững. Nhưng chính tâm lý ăn xổi ở thì, dẫn đến giữa nhận thức và hành động còn có khoảng cách khá xa. Người ta vẫn lựa chọn mô hình nào có thể làm cho kinh tăng trưởng cao hơn (dù chỉ trong chốc lát). Người ta vẫn chủ yếu dựa vào khai thác triệt để những lợi thế mà mình đang sẵn có như tài nguyên, lao động phổ thông giá rẻ…mà những lợi thế này sẽ lại là những bất lợi trong tương lai khi tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị tàn phá,lao động tay chân sẽ bị thừa ế vì lúc này người ta cần nhiềulao động có chất lượng cao cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Xu hướng hội nhập quốc tế Trong bối cảnh quốc tế hóa, toàn cầu hóa, hội nhậpkinh tếquốc tế trở thành xu thế tất yếu khách quan đối với tất cả các nước.Tuy nhiên đó chưa phải là điều kiện đủ để quyết định sự phát triển. Bản thânxu thế này cũng trở thành một thách thức đối với các nước. Một là, cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn. Cạnh tranh không chỉ giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp các nước trên thị trường nước ngoài để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ mà cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước. Điều đó gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của Nhà nước, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và công nghệ yếu kém mà tình trạng này lại khá phổ biến ở doanh nghiệp ở Việt Nam. Hai là,hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội. Thách thức ở đây làphảiđề ra được những chính sách đúng đắn, phải tạo dựng được môi trường để quá trình chuyển dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực diễn ra một cách suôn sẻ, với chi phí thấp. Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách cho việc bổ sung và hoàn thiện thể chế. Trước hết, phải liên tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư và phát huy mọi tiềm lực của tất cả các thành phần kinh tế. Đồng thời không ngừng hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hộinhập. Bốn là,Một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là minh bạch hóa nên khi gia nhập WTO, nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có sự thay đổi theo hướng công khai hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn. Nếu không tạo ra được một nền hành chính như vậy thì chẳng những không tận dụng được các cơ hội do hội nhập kinh tế nói chung và việc gia nhập WTO nói riêng đem lại mà cũng không chống được tham nhũng, lãng phí nguồn lực. Năm là, cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân đủ mạnh. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với Việt Nam do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinhtế mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài.Con số 30% cán bộ lãnh đạo thi nâng ngạch chuyên viên chính lên chuyên viên cao cấp không đạt; 30% cán bộ đến cơ quan chỉ để đọc báo nghe đài vừa qua là một minh chứng hùng hồn.Nếu không có sự chuẩn bị phù hợp, thách thức này sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục. Bẫy thu nhập trung bình Bẫy thu nhập trung bình là khái niệm chỉtình trạng một quốc gia thoát nghèo, gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trungbình nhưng mất nhiều thập kỷ vẫn không trở thành quốc gia phát triển. Khi sa vào bẫy thu nhập trung bình, các nước sẽ phải đối mặt với vấn đề: không còn quá nghèo để phải dồn mọi nguồn lực cho tăng trưởng, nhưng lại chưa đủ giàu về hạ tầng kinh tế - xã hội, về các nguồn lực nội sinh cho “bước nhảy sinh mệnh” của đất nước. Bước nhảy từ mốc thu nhập 1000 USD người/năm lên mức trên 10.000 USD người /năm là quan trọng. Chỉ có nền kinh tế nào vượt qua mốc thứ nhất và sau đó tiếp tục tăng trưởng mạnh để đạt tới mốc thứ hai, rồi vẫn tiếp tục tăng trưởng thì mới trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa, nghĩa là "hóa rồng". Như vậy, nhận diện đúng những thách thức là cần thiết để từ đó xây dựng các giải pháp vừa tận dụng được cơ hội bên ngoài, vừa phát huy được năng lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển đất nước nhanh và bền vững./. Lâm Phương |
Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013
Nhận diện thách thức cản trở sự phát triển
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét