Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

6 năm sau "cú hích" WTO: Ngành ngân hàng vẫn "nhiều rủi ro"

Các chuyên gia cho rằng ngành ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực cả về quy mô hoạt động, chất lượng dịch vụ, năng lực tài chính, trình độ quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin… Nhưng đi kèm với đó là chất lượng tín dụng xấu đi nhanh chóng, những khó khăn trong quản lý thanh khoản, lãi suất, tỷ giá... Những yếu kém này đã và đang có tác động tiêu cực tới môi trường vĩ mô thời gian qua.

Cơ hội thì ít, rủi ro thì nhiều

Sở dĩ có tình trạng đó là do sự nâng cấp ồ ạt của các ngân hàng nông thôn lên thành các ngân hàng đô thị, số lượng ngân hàng và chi nhánh gia tăng nhưng không đi kèm với việc tăng cường chất lượng quản lý, giám sát và các quy định, tiêu chí minh bạch, tăng trưởng tín dụng quá "nóng"…

Theo Ts. Hà Huy Tuấn - Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia: "Để đáp ứng tăng trưởng kinh tế, tín dụng ngân hàng tăng trưởng "nóng" trong một thời gian dài trong khi quản lý giám sát ngân hàng chưa bắt kịp với những vận động nhanh chóng của thị trường tất yếu gây ra những mất cân đối về thanh khoản và tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu".

Đồng quan điểm trên, Ts. Nguyễn Đại Lai - chuyên gia ngân hàng, cho rằng chất lượng tín dụng của nhiều ngân hàng ở mức rất thấp. Mà nguyên nhân chính là sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong khi "sức khỏe" lại đang yếu.

Ông Lai dẫn ví dụ thời gian qua, thị trường đã chứng kiến rất nhiều vụ vỡ nợ của doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khiến nhiều ngân hàng đứng trước nguy cơ mất vốn. Thực tế, có nhiều DN FDI khi vào Việt Nam chỉ có một ít "vốn mồi", còn lại là đi vay các ngân hàng trong nước để đầu tư cơ sở vật chất, hoạt động kinh doanh khiến nguy cơ nợ xấu tăng nhanh.

"Không chỉ vậy, các ngân hàng hiện nay vẫn có xu hướng cho các DN nhà nước vay, khiến cho khối DN tư nhân - nhân tố đóng góp phần lớn vào GDP, gặp khó khăn", ông Lai nêu ý kiến.

Việc gia nhập WTO tạo động lực tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

Thực tế, nợ xấu của khối DN nhà nước khá lớn. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN, tháng 1/2013, nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty (TCT) là 1,33 triệu tỷ đồng, hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân là 1,82 lần (năm 2011 là 1,77 lần), tuy vẫn nằm trong giới hạn cho phép nhưng xét riêng rẽ, một số tập đoàn, TCT có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao, vượt giới hạn cho phép nhiều lần, chưa tính một số công ty mẹ có số nợ nước ngoài lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, TCT Phát triển đường cao tốc…

Một rủi ro đáng lo ngại nữa được giới chuyên gia chỉ ra: các ngân hàng "nội" sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất dần lợi thế về dịch vụ ngân hàng bán lẻ từ mạng lưới các kênh phân phối và cơ sở khách hàng đã có sẵn khi các ngân hàng nước ngoài và các định chế tài chính phi ngân hàng tham gia ngày càng sâu rộng vào thị trường ngân hàng bán lẻ của Việt Nam.

Theo nhiều chuyên gia, những bất ổn của hệ thống ngân hàng nội sẽ là cơ hội tốt cho khối ngân hàng ngoại đẩy mạnh tăng trưởng cả về lượng và chất ở tất cả các phân khúc thị trường.

Thận trọng với tỷ lệ vốn góp

Đối mặt với vấn đề xử lý nợ xấu bằng vốn góp của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài vào ngân hàng "nội", nhiều ý kiến cho rằng cần phải cẩn trọng, nếu không, thương hiệu và thị phần của ngân hàng "nội" sẽ bị mất và đối mặt với việc mất kiểm soát luân chuyển vốn, trở thành địa điểm "rửa tiền".

Tuy nhiên, đa số chuyên gia đều cho rằng cần nới giới hạn góp vốn cổ phần lên cao (khoảng trên 40% hoặc không giới hạn), chỉ khi đó, các ngân hàng nước ngoài mới tích cực chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị tiên tiến, minh bạch, đẩy nhanh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.

Về vấn đề này, Ts. Cấn Văn Lực - chuyên gia tài chính và ngân hàng, cho rằng "room" sở hữu của NĐT nước ngoài đối với các tổ chức tín dụng (TCTD) trong nước cần cân nhắc tăng lên bao nhiêu để tạo ra sự hấp dẫn hơn: "Theo tôi, khoảng bằng mức cho phép với DN (lên mức 49% từ mức tối đa 30% hiện nay) là ổn. Hoặc có thể lúc đầu nới lên 40% để thể hiện được động thái của Việt Nam. Còn với các TCTD yếu kém thì có thể cho tăng lên mức quá bán (trên 50%), vì rõ ràng là với các TCTD yếu kém thì NĐT nước ngoài chỉ mua khi họ phải nắm quyền điều hành, kiểm soát để sau đó còn thay đổi toàn bộ mảng quản trị, điều hành, chiến lược…".

Mặc dù còn nhiều vấn đề bất cập, nhưng đa số chuyên gia đều cho rằng bức tranh hệ thống ngân hàng ở Việt Nam sau gia nhập WTO đã có những chuyển biến đáng kể.

Theo ông Tuấn, gia nhập WTO là cú hích cho sự vươn lên mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại (NHTM), nhất là NHTM cổ phần. Mặc dù khối NHTM nhà nước vẫn giữ vị trí chi phối, song vào năm 2010, lần đầu tiên, NHTM cổ phần vượt khối nhà nước về tổng tài sản. "Sự trỗi dậy của khối này trước áp lực cạnh tranh và vận hội mới là những minh chứng tích cực cho phát triển hệ thống ngân hàng sau khi gia nhập WTO", ông Tuấn nhấn mạnh.

Theo Ts. Nguyễn Thị Mùi - Giám đốc Trường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực VietinBank, việc gia nhập WTO giúp cho ngành ngân hàng nhận thức rõ những rủi ro, tạo động lực tái cấu trúc, sắp xếp lại hệ thống để hoạt động lành mạnh hơn. Đồng thời, 6 năm qua, hệ thống ngân hàng buộc phải có sự điều chỉnh sau thời gian tăng trưởng "nóng" trước đây, hình thành bộ tiêu chí nâng cao chuẩn mực hoạt động ngành ngân hàng.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét